6 tháng 4, 2011

Viêm tĩnh mạch

Theo nghĩa đen, danh từ này có nghĩa là một tĩnh mạch bị viêm tấy. Đối với ngành y, chứng viêm tĩnh mạch có nghĩa là một tĩnh mạch nông – tức là một tĩnh mạch nằm gần bề mặt làn da – bị viêm tấy. Danh từ này không áp dụng cho một trường hợp huyết khối tĩnh mạch sâu, khi tiến trình viêm tấy ảnh hưởng đến những tĩnh mạch lớn hơn, sâu hơn. Do đó, đúng hơn phải gọi chứng bệnh viêm tĩnh mạch là bệnh viêm huyết khối tĩnh mạch nông (huyết khối có nghĩa là cục máu đông).
Người ta thường gặp bệnh viêm huyết khối tĩnh mạch hơi nhiều hơn ở phụ nữ vì bệnh có liên quan đến quá trình sinh đẻ, viên thuốc tránh thai và các tĩnh mạch giãn nở. Gần như bao giờ bệnh này cũng có thể xảy ra vì có một hiện tượng nhiễm trùng tại chỗ, như một cái nhọt hay một áp xe, hay vì một vết thương. Nó xuất hiện như một lằn nhạy cảm, cứng, đỏ trong làn da. Đó là bởi vì cục máu đông đã bám rất chặt vào thành tĩnh mạch.
Do đó không sợ có nguy cơ một mảnh cục máu đông vỡ (bể) ra và hình thành một vật gây tắc mạch và sinh ra chứng huyết khối nơi khác. Hiện tượng này xảy tới với chứng huyết khối tĩnh mạch sâu, khi đó luôn luôn có nguy cơ bị tắc mạch phổi. Bởi vậy, chứng bệnh viêm huyết khối tĩnh mạch nông chỉ khó chịu thôi chứ không nguy hiểm.
Triệu chứng
• Dưới da có lằn nhạy cảm, cứng, đỏ.
• Cảm giác ngứa trên vùng sưng cứng.
• Nếu có nhiễm trùng, bạn có thể bị sốt.
Hướng giải quyết
- Trong trường hợp bạn bị một cái nhọt hay bất cứ một chứng rối loạn ngoài da nào, và vùng da đó hóa đau, cứng và sưng lên, bạn hãy đi khám. Điều này có thể là trường hợp xảy ra nếu gần đây bạn mới được trị liệu bằng đường tĩnh mạch.
- Nếu vị trí chích thuốc hóa đau và đỏ, bạn hãy đi khám nếu bị nhiễm trùng. Các chỗ giãn tĩnh mạch đôi khi là vị trí bị phải rối loạn này.
Xử trí
- Trong trường hợp bị nhiễm trùng, trước tiên là bác sĩ sẽ chữa trị nhiễm trùng bằng thuốc kháng sinh, thuốc sát trùng và kem kháng sinh bôi tại chỗ. Khi đã khắc phục được trình trạng nhiễm trùng rồi, cục máu đông sẽ tan rã, teo lại và rốt cuộc biến đi không để lại dấu tích.
- Nếu cục máu đông lớn, nó có thể để lại một vết sẹo nhỏ người ta có thể sờ nắn thấy được như một chỗ u lồi lên. Tuy nhiên, dù cho cục máu đông có đủ lớn để làm tắc nghẽn hoàn toàn tĩnh mạch, cũng chẳng có gì là tai hại. Mạng lưới các tĩnh mạch ở các lớp bên trên của làn da bao la đến độ có những đường kênh mới được mở ra để làm công việc của tĩnh mạch bị bế tắc.
Tiến hành
- Lấy một cuộn băng thun bó chặt vùng bị viêm tĩnh mạch (nông) có thể làm cho bạn dễ chịu hơn. Làm như vậy khiến cho máu lưu thông mau hơn, và tránh có những cục máu đông hình thành thêm. Việc chữa trị nội khoa sẽ đem lại kết quả trong vòng hai tuần.
- Trong trường hợp vùng da bị ngứa ngáy, bạn hãy sử dụng một loại kem có kẽm và dầu thầu dầu (castor oil) sẽ làm cho da bớt bị tấy.

TĨNH MẠCH VIÊM TẮC

A. Đại cương

Đây là một loại bệnh ống mạch máu bị tắc nghẽn do máu đông cục lại thành khối.

Thường gặp nơi phái nam 20 - 40 tuổi.

B. Nguyên nhân

Chủ yếu do bị lạnh, hàn thấp xâm nhập vào kinh lạc làm cho khí huyết bị ứ trở không thông, gây ra bệnh. Cũng có thể do hút thuốc lá nhiều, uống rượu quá mức, hoả độc nội sinh, tình chí uất ức, khí trệ, huyết ứ, hoặc do ngoại thương làm cho khí huyết ứ trệ đều gây ra bệnh.

C. Triệu chứng

Thường bắt đầu ở một bên chân, đầu ngón chân lạnh, tê, da vùng đầu ngón trắng xanh hoặc tím, đi khập khễnh, đi một đoạn đường thì Cảm thấy cơ bắp chân tê, co thắt và đau, nghỉ ngơi thì nhẹ đi, nếu đi tiếp thì lại bị tê đau. Dần dần thì cơ, thịt bị co rút, đau. Cuối cùng ở đầu ngón chân da hóa đen, hoại tử và bong da. Đau nhức cả ngày, đêm càng đau nhiều. Người bệnh thường co gối, ôm chân hoặc thõng chân xuống. Đồng thời có Cảm giác sợ lạnh. Nếu có hoại tử hoặc viêm nhiễm thì có thể bị sốt. Lúc khám ở mu bàn chân, sau ống chân, nhượng (kheo) chân, thấy động mạch đập yếu đi hoặc không Cảm thấy. Đưa cao chi đau lên, mầu da biến thành tái xanh, khi thòng xuống thì biến thành tím hoặc hồng tím. Nếu kèm tĩnh mạch bị viêm thì ngoài da có thể có những đám sưng mầu hồng giống từng dải, ấn vào đau hoặc sờ thấy những mụn cứng. Rêu lưỡi mỏng trắng hoặc dầy nhớt, mạch thường Nhu, Tế hoặc Trầm Khẩn. Nếu có viêm nhiễm, mạch biến thành Huyền Sắc, rêu lưỡi vàng.

D. Điều trị

1- Châm Cứu Học Thượng Hải: Hoạt huyết, thông lạc.

* Chi trên: Giáp Tích Cổ 6 - Ngực 3, Khúc Trì (Đtr.11) thấu Thiếu Hải, Nội Quan (Tb.6) thấu Ngoại Quan (Ttu.5).

* Chi dưới: Giáp Tích thắt lưng 1 - 3, Hạ Tiêu Du, Dương Lăng Tuyền (Đ.34) thấu Âm Lăng Tuyền (Ty.9), Huyền Chung (Đ.39) thấu Tam Âm Giao (Ty.6).

Châm kích thích mạnh, vê kim 2 - 3 phút rồi lưu kim 10 - 15 phút. Ngày châm 1 lần. 15 - 20 lần là một liệu trình.

* Ngón tay ngón chân đau nhức nhiều, thêm Thượng Bát Tà và Thượng Bát Phong.

2- Cách Du (Bq.17) + Đàn Trung (Nh.17) cứu 7 phút. Chỗ huyết tắc cứu 15 phút, cứu đến khi da vùng đó ửng đỏ . Mỗi ngày 1 lần, 7 lần là một liệu trình (Tân Trung Y Tạp Chí số 32/1985).

Viêm tắc tĩnh mạch - Suy tĩnh mạch nông sâu - Hồi phục sau tai biến

Viêm tắc tĩnh mạch,suy van tỉnh mạch nông, suy van tĩnh mạch sâu làm cho lòng mạch máu bị hẹp lại,làm nghẽn mạch máu, tạo ra sự phồng rộp trong lòng mạch, các cục máu đông lại, hay xơ vữa động mạch tạo thành các cục bám lại.

Khi mạch máu bị các cục tròn bít lại sẽ gây ra hiện tượng hoại tử ở phần máu đưa tới nuôi dưỡng ở các chi.

Nếu bị suy tĩnh mạch nông sẽ ảnh hưởng tới các chi chân tay, bị suy tĩnh mạch sâu thường gây phù ảnh hưởng tới viêm tắc ở mạch phổi gây ngạt thở, hay bị ở tim gây đột quỵ do tim, nếu viêm tắc tĩnh mạch não, cục máu đông chèn máu nuôi não gây tai biến, dạng nhũn não.

Thuốc chữa:
dùng 2 loại:
Khi kết hợp 2 loại thuốc này sẽ phá các cục máu đông, xơ vữa động mạch, giản nở trong máu, hồi phục lại hệ thống tuần hoàn và não.

Nếu bị tai biến mạch máu não do huyết áp cao, tôi kết hợp số 6, số 16 và số 11, chữa huyết áp cao, phá huyết cục đọng lại trong não, trong mạch máu, xơ vữa mạch máu, huyết đọng trong não,hạ khỏi huyết áp để phòng trừ tai biến lại, làm giản cơ do co rút các khớp xương để vẫn động lại bình thường.

Tôi đã chữa nhiều người bị viêm tắc, suy tĩnh mạch nông, sau, đã bị nhồi máu cơ tim, tai biến sau một thời gian, uống thuốc thường mỗi loại 4-15 gói thì bệnh nhân trở lại bình thường, tỉ lệ khỏi cao không bị tái phát lại.

Thuocbackimtuan.com

Giãn tĩnh mạch khiến chân nổi nhiều ''sợi dây'' xanh tím dưới da.

Giãn tĩnh mạch

Theo ước tính của các nhà chuyên môn, cứ 2 phụ nữ thì có 1 người bị giãn tĩnh mạch. Tĩnh mạch bị giãn chủ yếu là các tĩnh mạch chân kèm theo tổn thương thành mạch. Sở dĩ có giãn tĩnh mạch là vì các van trong lòng tĩnh mạch ứ đầy máu và căng phồng lên. Trong nhiều trường hợp, giãn tĩnh mạch không phải là bệnh mà chỉ là bị chi phối bởi một số yếu tố như di truyền, nội tiết, thừa cân, lối sống tĩnh tại, đứng lâu hoặc sức nóng.

Triệu chứng:

Trong thời gian đầu, sau khi đứng lâu để làm một việc gì đó, bệnh nhân thấy khó chịu ở chân: nặng chân, cảm giác kiến bò, ít khi thấy đau thực sự. Những cảm giác này mới chỉ là hậu quả của việc ứ máu trong tĩnh mạch chứ chưa phải là do giãn tĩnh mạch gây nên. Nhưng lâu dần về sau, các tĩnh mạch sẽ bị giãn thật sự và ta có thể nhìn thấy chúng nổi hằn lên dưới da như những sợi dây. Sờ vào những sợi dây này, thấy mềm và có màu hơi xanh tím, sẽ xẹp xuống khi bệnh nhân nằm và lại phồng lên khi bệnh nhân đứng dậy.

Khi bị viêm thì giãn tĩnh mạch có thể gây đau và làm thay đổi lớp da dọc theo đoạn tĩnh mạch bị viêm. Có khi tĩnh mạch bị vỡ, máu chảy dồn về phần trong cẳng chân (tạo nên một bọc máu dưới da gây đau) hoặc máu chảy ngoài da (chảy máu đột ngột và nhiều). Về sau, vì máu tĩnh mạch không chảy về tim được như bình thường nên các mắt cá và bàn chân sẽ bị sưng nề, xuất hiện các bệnh viêm da có màu nâu đỏ, các tổn thương loét (loét giãn tĩnh mạch, loét kéo dài và bội nhiễm).

Điều trị:

Có nhiều cách điều trị giãn tĩnh mạch: chống tụ máu ở chân (đi tất chun, gác chân lên cao khi ngủ, không để chân bị nóng...), tập đi bộ để máu tĩnh mạch chảy về tim dễ dàng., dùng các thuốc trợ tĩnh mạch, tiêm thuốc làm xơ hoá những tĩnh mạch đã bị giãn. Với những trường hợp nặng có thể phẫu thuật loại bỏ tĩnh mạch. Điều trị bằng nước khoáng nóng cũng cho kết quả tốt với các bệnh da và tình trạng giãn tĩnh mạch loét.

Phòng tránh:

Phòng giãn tĩnh mạch thường bằng các hoạt động thể thao (bơi, đi bộ), không đứng lâu, khi ngủ gác chân lên cao, không để chân bị nóng (phơi nắng, tắm hơi). Cũng không đi bít tất quá chật để máu tĩnh mạch về tim dễ dàng.

Viêm tĩnh mạch

Trong trường hợp này, một cục máu đã hình thành trong lòng một tĩnh mạch; đôi khi kèm theo viêm thành tĩnh mạch. Như vậy, máu không thể tuần hoàn bình thường được và áp lực trong lòng mạch ở phần trên chỗ bị tắc sẽ rất cao. Tĩnh mạch nông hay bị viêm hơn các tĩnh mạch sâu.

Nguyên nhân gây nên viêm tĩnh mạch là do bệnh nhân bị bất động lâu hoặc do tĩnh mạch bị chèn ép (ngồi lâu trên máy bay, hồi phục sau một cuộc phẫu thuật, bó bột chân trong thời gian dài). Các rối loạn đông máu, hiện tượng tiêu fibrin, bệnh ung thư, bạch cầu... đều có thể gây viêm tĩnh mạch.

Triệu chứng:

Viêm tĩnh mạch sâu sẽ gây đau tự phát hoặc khi sờ vào chân (thường là đau bắp chân). Bệnh nhân thấy nóng ở vùng tổn thương, đôi khi sốt và tim đập nhanh. Nếu viêm tĩnh mạch nông thì đoạn tĩnh mạch viêm sẽ cứng và đau. Nhiều khi viêm tĩnh mạch không có biểu hiện bệnh lý mà chỉ phát hiện được khi làm siêu âm Doppler. Nếu là viêm tĩnh mạch sâu, cục máu có thể vỡ thành nhiều mảnh nhỏ di chuyển đến phổi gây nghẽn mạch phổi làm suy hô hấp nặng, dễ tử vong. Viêm tĩnh mạch cũng có thể làm phù chân, loét chân hoặc rối loạn dinh dưỡng các mô.

Điều trị:

Bệnh nhân viêm tĩnh mạch sâu cần được điều trị cấp cứu tại bệnh viện bằng các thuốc chống đông. Sau đó, để tránh tái phát, phải cai thuốc lá, không dùng các viên tránh thai và đi bít tất chun. Điều trị viêm tĩnh mạch nông bằng các thuốc chống viêm.

Phòng ngừa:

Các biện pháp phòng bệnh đơn giản là hàng ngày phải vận động đều đặn các cơ bắp chân trong trường hợp chân bị bó bột, không nằm lâu sau phẫu thuật hoặc sau khi đẻ; khi cần thiết phải dùng các thuốc chống đông để dự phòng nghẽn tĩnh mạch.

GS. Phạm Cường, Khoa học & Đời sống

Giãn, viêm tĩnh mạch có nguy hiểm?

Do là những mạch máu rất dễ bị tổn thương, tĩnh mạch dễ bị giãn hoặc viêm, dẫn đến tình trạng sưng nề, viêm loét chân. Nặng hơn, có thể hình thành một cục máu đông trong lòng tĩnh mạch, khi vỡ làm nghẽn mạch phổi, gây suy hô hấp, thậm chí tử vong. Cách phòng ngừa hữu hiệu nhất là năng vận động.
Giãn tĩnh mạch khiến chân nổi nhiều ''sợi dây'' xanh tím dưới da.

Giãn tĩnh mạch khiến chân nổi nhiều ''sợi dây'' xanh tím dưới da.

Giãn tĩnh mạch

Theo ước tính của các nhà chuyên môn, cứ 2 phụ nữ thì có 1 người bị giãn tĩnh mạch. Tĩnh mạch bị giãn chủ yếu là các tĩnh mạch chân kèm theo tổn thương thành mạch. Sở dĩ có giãn tĩnh mạch là vì các van trong lòng tĩnh mạch ứ đầy máu và căng phồng lên. Trong nhiều trường hợp, giãn tĩnh mạch không phải là bệnh mà chỉ là bị chi phối bởi một số yếu tố như di truyền, nội tiết, thừa cân, lối sống tĩnh tại, đứng lâu hoặc sức nóng.

Triệu chứng:

Trong thời gian đầu, sau khi đứng lâu để làm một việc gì đó, bệnh nhân thấy khó chịu ở chân: nặng chân, cảm giác kiến bò, ít khi thấy đau thực sự. Những cảm giác này mới chỉ là hậu quả của việc ứ máu trong tĩnh mạch chứ chưa phải là do giãn tĩnh mạch gây nên. Nhưng lâu dần về sau, các tĩnh mạch sẽ bị giãn thật sự và ta có thể nhìn thấy chúng nổi hằn lên dưới da như những sợi dây. Sờ vào những sợi dây này, thấy mềm và có màu hơi xanh tím, sẽ xẹp xuống khi bệnh nhân nằm và lại phồng lên khi bệnh nhân đứng dậy.

Khi bị viêm thì giãn tĩnh mạch có thể gây đau và làm thay đổi lớp da dọc theo đoạn tĩnh mạch bị viêm. Có khi tĩnh mạch bị vỡ, máu chảy dồn về phần trong cẳng chân (tạo nên một bọc máu dưới da gây đau) hoặc máu chảy ngoài da (chảy máu đột ngột và nhiều). Về sau, vì máu tĩnh mạch không chảy về tim được như bình thường nên các mắt cá và bàn chân sẽ bị sưng nề, xuất hiện các bệnh viêm da có màu nâu đỏ, các tổn thương loét (loét giãn tĩnh mạch, loét kéo dài và bội nhiễm).

Điều trị:

Có nhiều cách điều trị giãn tĩnh mạch: chống tụ máu ở chân (đi tất chun, gác chân lên cao khi ngủ, không để chân bị nóng...), tập đi bộ để máu tĩnh mạch chảy về tim dễ dàng., dùng các thuốc trợ tĩnh mạch, tiêm thuốc làm xơ hoá những tĩnh mạch đã bị giãn. Với những trường hợp nặng có thể phẫu thuật loại bỏ tĩnh mạch. Điều trị bằng nước khoáng nóng cũng cho kết quả tốt với các bệnh da và tình trạng giãn tĩnh mạch loét.

Phòng tránh:

Phòng giãn tĩnh mạch thường bằng các hoạt động thể thao (bơi, đi bộ), không đứng lâu, khi ngủ gác chân lên cao, không để chân bị nóng (phơi nắng, tắm hơi). Cũng không đi bít tất quá chật để máu tĩnh mạch về tim dễ dàng.

Viêm tĩnh mạch

Trong trường hợp này, một cục máu đã hình thành trong lòng một tĩnh mạch; đôi khi kèm theo viêm thành tĩnh mạch. Như vậy, máu không thể tuần hoàn bình thường được và áp lực trong lòng mạch ở phần trên chỗ bị tắc sẽ rất cao. Tĩnh mạch nông hay bị viêm hơn các tĩnh mạch sâu.

Nguyên nhân gây nên viêm tĩnh mạch là do bệnh nhân bị bất động lâu hoặc do tĩnh mạch bị chèn ép (ngồi lâu trên máy bay, hồi phục sau một cuộc phẫu thuật, bó bột chân trong thời gian dài). Các rối loạn đông máu, hiện tượng tiêu fibrin, bệnh ung thư, bạch cầu... đều có thể gây viêm tĩnh mạch.

Triệu chứng:

Viêm tĩnh mạch sâu sẽ gây đau tự phát hoặc khi sờ vào chân (thường là đau bắp chân). Bệnh nhân thấy nóng ở vùng tổn thương, đôi khi sốt và tim đập nhanh. Nếu viêm tĩnh mạch nông thì đoạn tĩnh mạch viêm sẽ cứng và đau. Nhiều khi viêm tĩnh mạch không có biểu hiện bệnh lý mà chỉ phát hiện được khi làm siêu âm Doppler. Nếu là viêm tĩnh mạch sâu, cục máu có thể vỡ thành nhiều mảnh nhỏ di chuyển đến phổi gây nghẽn mạch phổi làm suy hô hấp nặng, dễ tử vong. Viêm tĩnh mạch cũng có thể làm phù chân, loét chân hoặc rối loạn dinh dưỡng các mô.

Điều trị:

Bệnh nhân viêm tĩnh mạch sâu cần được điều trị cấp cứu tại bệnh viện bằng các thuốc chống đông. Sau đó, để tránh tái phát, phải cai thuốc lá, không dùng các viên tránh thai và đi bít tất chun. Điều trị viêm tĩnh mạch nông bằng các thuốc chống viêm.

Phòng ngừa:

Các biện pháp phòng bệnh đơn giản là hàng ngày phải vận động đều đặn các cơ bắp chân trong trường hợp chân bị bó bột, không nằm lâu sau phẫu thuật hoặc sau khi đẻ; khi cần thiết phải dùng các thuốc chống đông để dự phòng nghẽn tĩnh mạch.

GS. Phạm Cường, Khoa học & Đời sống

Viêm tắc tĩnh mạch chi dưới có chữa khỏi được không?

Hỏi:Tôi bị viêm tắc tĩnh mạch chi phải đã 3 năm nay, đã chữa rất nhiều nơi. Hiện nay chân tôi đã chuyển sang màu đen. Xin hỏi có phương pháp nào chữa được bệnh này không, ở đâu? (Duong Quang Viet - Lào Cai)

Đáp:Cần phải xác định xem bị viêm tắc tĩnh mạch chi dưới ở tình trạng nông hay sâu, giai đoạn nào, đã có biến chứng hay chưa mới có thể xác định phương pháp điều trị được.

1/ Viêm tắc tĩnh mạch nông chi dưới thường gặp khi bệnh nhân bị giãn tĩnh mạch nông chi dưới sau một tình trạng bệnh nặng như mất máu lớn, nhồi máu cơ tim...; đôi khi gặp viêm tắc tĩnh mạch nguyên phát do nhiễm trùng trên một cơ thể dễ mẫn cảm như dị ứng hay phải truyền máu…

Để chẩn đoán viêm tắc tĩnh mạch nông chi dưới cần được thăm khám tại chỗ cũng như tìm hiểu tiền sử có mắc các bệnh có liên quan hay không, đồng thời có thể làm xét nghiêm chụp tĩnh mạch, siêu âm doppler mạch máu để xác định.

Điều trị: Nội khoa đối với viêm tắc tĩnh mạch nông ở chi dưới khi đang có triệu chứng viêm cấp hoặc để điều trị chuẩn bị cho phẫu thuật. Điều trị ngoại khoa bằng phẫu thuật được đặt ra đối với các trường hợp điều trị nội khoa không có kết quả, bệnh tái phát liên tục, tùy theo từng trường hợp cụ thể có thể mổ lấy bỏ tĩnh mạch bị viêm tắc, lấy bỏ cục nghẽn.

2/ Viêm tắc tĩnh mạch sâu ở chi dưới thường gặp sau chấn thương, bỏng, sinh khó hoặc sẩy thai ở phụ nữ, sau mổ lấy thai hoặc sau các phẫu thuật ở cơ quan tiêu hóa, tiết niệu và một số bệnh nhiễm trùng khác…

Để chẩn đoán bệnh cũng phải thăm khám và làm các XN như chụp tĩnh mạch, siêu âm.

Điều trị đối với viêm tắc tĩnh mạch sâu có thể phối hợp 2 phương pháp điều trị nội khoa và ngoại khoa. Điều trị nội khoa bao gồm nghỉ ngơi, bất động tại giường, để cao chân, dùng các thuốc chống đông, các thuốc tiêu fibrin, chống viêm, chống co thắt... Có thể tiến hành điều trị ngoại khoa để lấy bỏ cục nghẽn tĩnh mạch, rạch bao gân giải phóng các mạch máu trong cơ bị chèn ép, cải thiện tuần hoàn...

Nhìn chung bệnh viêm tắc tĩnh mạch là một bệnh lý khá phức tạp, cần được theo dõi tại bệnh viện để có chẩn đoán xác định, qua đó các bác sĩ sẽ lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp cho bạn.

BS Bạch Long

TĨNH MẠCH VIÊM TẮC

Đại Cương

Là trạng thái một phần tĩnh mạch, thường ở phần nông bị viêm tắc, nổi lên, có mầu đỏ, hình dạng giống như con giun bò, cứng, đau.

Cũng gọi là ‘Ác Mạch’, ‘Ác Mạch Bệnh’, ‘Xích Mạch Bệnh’, ‘Thanh Xà Tiên’, ‘Thanh Độc Xà’, ‘Hoàng Thu Ung’.

Thường gặp ở tuổi thanh niên, tráng niên, nam nữ đều bị nhưng nữ bị nhiều hơn, thường nổi ở tay chân, bắp chân nhiều hơn.

Nguyên Nhân

Sách ‘Lưu Quyên Tử Quỷ Di Phương’ viết: “Chứng Thanh xà tiên sinh ở dưới bụng chân, kết thành khối, dài 2-3 thốn, phát nóng lạnh, ăn uống không được, thuộc về kinh túc Thiếu dương và túc Thái dương. Do Thận kinh bị hư tổn, thấp nhiệt dồn xuống phía dưới gây nên. Đầu (của khối tĩnh mạch tắc) hướng về phía trên thì khó trị, đầu hướng xuống phía dưới, châm cho máu xấu ra. Nơi người già yếu, nếu thấy nôn mửa,, bụng trướng, thần trí hôn mê, mạch táo thì sẽ chết”.

Sách ‘Chư Bệnh Nguyên Hậu Luận’ viết: “Do mùa xuân, mùa đông cảm phải ác phong, nhập vào kinh lạc mạch, khiến cho huyết ứ kết lại gây nên bệnh”.

Sách ‘Thiên Kim Phương’ viết: “Có bệnh về mạch, phía trên cơ thể tự nhiên có mạch lạc dẫn đến tai ù, giống như hình dạng con giun bị chết. Mùa xuân có dạng giống như nước ở bên trong mạch, dài ngắn ở các mạch. Do mùa xuân, mùa đông bị ác phong nhập vào lạc mạch, huyết bị ứ lại sinh ra. Dùng bài ‘Ngũ Hương Liên Kiều Thang và Trúc Lịch để trị. Châm cho ra máu, dùng Đan Sâm Cao đắp bên ngoài”.

Sách ‘Chứng Trị Chuẩn Thằng, mục Dương Y’ viết: “Chứng Thanh xà tiên, tức Thanh xà ung ở phía trên bắp chân, có hình giống con rắn, loại to thì có đầu, loại nhỏ thì có đuôi, lúc mới phát không có mồ hôi”.

Sách ‘Ngoại Khoa Đại Thành’ và sách ‘Y Tông Kim Giám’ gọi là Thanh độc xà.

Nguyên Nhân

+ Thấp Nhiệt Uẩn Kết: ăn uống không điều độ, thích ăn thức cao lương mỹ vị (chất béo), cay nóng khiến cho Tỳ Vị mất chức năng kiện vận, thủy thấp không được vận chuyển đi, uất lại lâu ngày hóa thành nhiệt, thành hỏa độc, thấp nhiệt dồn xuống mạch gây nên bệnh.

+ Hàn Thấp Ngưng Trệ: nhiễm hàn thấp lâu ngày, cảm hàn thấp, ngưng trệ ở kinh mạch. Thấp tà là loại dính, béo, bẩn; Hàn có tính ngưng trệ, làm tổn thương phần dưới cơ thể, tổn thương dương khí khiến cho khí huyết ở chân bị ngưng trệ gây nên bệnh.

+ Can Khí Uất Kết: Tình chí uất ức, giận dữ làm hại Can, Can mất chức năng điều giáng, sơ tiết không thông, khí uất lâu ngày làm cho khí huyết và mạch lạc không thông, huyết ứ đình tụ lại gây nên bệnh.

+ Tỳ Mất Chức Năng Kiện Vận: bệnh lâu ngày, đứng lâu hoặc đi bộ nhiều, làm việc mệt nhọc quá làm cho Tỳ khí hao kiệt. Tỳ chủ tứ chi, chủ thống huyết. Nếu Tỳ không thống được huyết, huyết ứ ở lạc mạch hoặc vì Tỳ hư sinh ra đờm thấp ngưng trở ở lạc mạch gây nên bệnh.

+ Huyết Mạch Bị Chấn Thương: Do té ngã, chấn thương, đao kiếm chém... làm cho lạc mạch bị tổn hại hoặc bị nhiễm độc hoặc do huyết bị ứ, tích tụ lại không tan đi, uất lâu ngày hóa nhiệt gây nên bệnh.

Biện Chứng Trị Liệu

Bệnh chủ yếu do thấp nhiệt uẩn kết, hàn thấp ngưng trệ, huyết ứ, Tỳ mất chức năng kiện vận, Can uất.

Điều trị phải hoạt huyết hóa ứ, thanh nhiệt, lợi thấp, ôn dương hóa trệ, kiện Tỳ ích khí, thư Can giải uất.

Triệu Chứng

+ Thấp Nhiệt Uẩn Kết: Chân nặng, tức, sốt, da vùng bệnh đỏ, đau, thích lạnh, sợ nóng hoặc có những khúc ngoằn nghèo, phiền muộn, khát, không muốn ăn, nước tiểu ít, đỏ, lưỡi đỏ xậm, rêu lưỡi vàng bệu mạch Hoạt Sác hoặc Hồng Sác.

Điều trị: Thanh nhiệt, lợi thấp, giải độc, thông kết.

- Sách ‘Trung Y Cương Mục’ Dùng bài Tỳ Giải Thấm Thấp Thang gia giảm: Tỳ giải, Ý dĩ, Hoàng bá, Xích phục linh, Đan bì, Trạch tả, Hoạt thạch, Thông thảo.

(Tỳ giải, Ý dĩ, Xích phục linh, Trạch tả thấm thấp, lợi thủy; Hoàng bá thanh thấp nhiệt ở hạ tiêu; Hoạt thạch, Thông thảo thanh nhiệt, lợi thủy, làm cho thấp nhiệt độc thoát ra qua đường tiểu).

Gia giảm: Nhiệt nhiều thêm Kim ngân hoa, Liên kiều; Đau nhức nhiều thêm Đào nhân, Hồng hoa, Nguyên hồ.

Đắp ngoài: Kim Hoàng Cao.

- Sách ‘Bì Phu Bệnh Trung Y Chẩn Liệu Học’ dùng bài Nhân Trần Xích Đậu Thang gia giảm: Nhân trần 24g, Xích tiểu đậu 18g, Ý dĩ nhân 30g, Khổ sâm 12g, Thương truật, Hoàng bá, Phòng kỷ, Trạch tả, Bội lan, Bạch đậu khấu đều 9g, Địa đinh, Bồ công anh đều 15g, Cam thảo 3g. Sắc uống.

+ Hàn Thấp Ngưng Trệ: Chân nặng, ấn vào lõm sâu xuống, sáng nhẹ, chiều nặng, sợ lạnh, sắc da không tươi nhuận, bắp chân đau, khó co duỗi, chân nặng, không có sức, ngại đi, ăn uống kém, lưỡi trắng bệu, mạch Tế Nhu hoặc Trầm Tế.

Điều trị: Ôn dương, hóa trệ, lợi thấp, thông kết.

- Sách ‘Trung Y Cương Mục’ dùng bài Thực Tỳ Ẩm gia giảm: Bạch truật, Phục linh, Mộc qua, Hậu phác, Thảo đậu khấu, Đại phúc bì, Mộc hương, Phụ tử (chế), Can khương, Cam thảo, Sinh khương, Đại táo.

(Phụ tử, Can khương ôn dưỡng Tỳ Thận, phù dương ức âm; Bạch truật, Cam thảo kiện Tỳ, hòa trung; Thảo đậu khấu hóa thấp trọc ở Tỳ Thận; Đại phúc bì, Phục linh lợi thấp, hành thủy; Mộc qua tỉnh Tỳ, hòa Vị, sơ Can, ức mộc; Hậu phác, Mộc hương lý khí, khoan trung. Khí hành thì thủy sẽ hành; Sinh khương, Ddaij táo ích Tỳ, hòa trung).

Thuốc Đắp: Hồi Dương Ngọc Long Cao.

- Sách ‘Bì Phu Bệnh Trung Y Chẩn Liệu Học’ dùng bài Đương Quy Tứ Nghịch Thang gia giảm: Đương quy, Xích thược, Ngưu tất, Trạch lan diệp đều 30g, Quế chi 9g, Tế tân, Mộc thông, Chích cam thảo đều 6g. Sắc uống.

Hoặc dùng Hoạt Huyết Chỉ Thống Tán: Thấu cốt thảo, Huyền hồ sách, Quy vĩ, Khương hoàng phiến, Xuyên tiêu, Hải đồng bì, Uy linh tiên, Ngưu tất, Nhũ hương, Một dược, Khương hoạt, Bạch chỉ, Tô mộc, Ngũ gia bì, Hồng hoa, Thổ phục linh đều 9g. Sắc sôi, xông và chườm vùng bệnh, ngày 1-2 lần, mỗi lần 30-60 phút.

+ Huyết Ứ: Da bên ngoài đau, nặng, tức, sắc da đỏ tím, cử động thì đau, vùng bắp chân đau hoặc có những vết ngoằn nghèo, ấn nhẹ vào thấy căng cứng, lưỡi có những vết ban tím, mạch Trầm Tế hoặc Trầm Sáp.

Điều trị: Hoạt huyết hóa ứ, hành khí tán kết.

- Sách ‘Trung Y Cương Mục’ dùng bài Để Đương Thang gia giảm: Thủy điệt, Mang trùng (bỏ cánh, chân, sao), Đào nhân (bỏ vỏ và đầu nhọn), Đại hoàng (tẩy rượu).

(Thủy điệt trục huyết ứ xấu ra, phá trưng hà, tích tụ, có tác dụng phá ứ huyết cũ, sinh huyết mới, chuyển vào phần huyết mà không làm tổn thương khí; Mang trùng trục ứ tích, phá kết, tăng cường tác dụng của Thủy điệt. Nếu uống vào mà bị tiêu chảy thì ngưng thuốc lại. Phối hợp với Đại hoàng để quét sạch nhiệt, dẫn máu ứ đi xuống; Đào nhân phá huyết, hành ứ).

Thuốc đắp: Xung Hòa Cao.

- Sách ‘Bì Phu Bệnh Trung Y Chẩn Liệu Học’ dùng bài Hoạt Huyết Thông Mạch Thang gia giảm: Đương quy, Đan sâm, Ngân hoa đều 30g, Xích thược, Đào nhân, Ngưu tất, Nhũ hương, Một dược, Xuyên sơn giáp, Huyền hồ sách đều 9g, Kê huyết đằng 15g. Sắc uống.

Hoặc dùng Thanh Doanh Giải Ứ Thang: Ích mẫu thảo 60-100g, Tử thảo, Xích thược, Đan bì đều 15g, Tử hoa địa đinh, Cam thảo (sống) đều 30g. Sắc uống (Bì Phu Bệnh Trung Y Chẩn Liệu Học).

Hoặc dùng Hoạt Huyết Trục Ứ Thang: Đương quy 18g, Xích thược, Đào nhân, Hồng hoa, Quế chi, Phòng kỷ đều 9g, Đan sâm 15g, Hoàng kỳ (sống) 30g. Sắc uống (Bì Phu Bệnh Trung Y Chẩn Liệu Học).

Hoặc dùng Hoạt Huyết Khứ Ứ Phiến: Lưu ký nô 45g, Đương quy, Xích thược, Khương hoạt đều 30g, Đào nhân, Hồng hoa, Xuyên sơn giáp, Thổ nguyên đều 24g, Công đinh hương, Đại hoàng (sống) đều 15g, Vô danh dị (chế) 60g, Mộc hương 18g,. Tán nhuyễn, chế thành phiến, mỗi phiến 0,3g. Mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 10 phiến (Bì Phu Bệnh Trung Y Chẩn Liệu Học).

+ Tỳ Mất Chức Năng Kiện Vận: Da vùng bệnh sưng tức, ấn vào lõm, sắc da hơi trắng hoặc xanh úa, chân nặng, không có sức, vùng bụng trên khó chịu, sắc mặt vàng úa, duỗi chân khó, chân lạnh, tiêu lỏng, lưỡi trắng nhạt, rêu lưỡi trắng hoặc hoạt bệu, mạch Trầm Hoãn.

Điều trị: Phù Tỳ kiện Vị, ích khí dưỡng huyết.

- Sách ‘Trung Y Cương Mục’ dùng bài Phòng Kỷ Hoàng Kỳ Thang gia giảm: Phòng kỷ, Hoàng kỳ (sống), Bạch truật, Cam thảo (chích), Sinhh khương, Đại táo. Sắc uống.

(Phòng kỷ khứ phong, chỉ thống, lợi thủy, thoái thủng; Hoàng kỳ bổ ích trung khí, lợi thủy, tiêu thủng làm chủ dược; Bạch truật, Cam thảo kiện Tỳ, hòa trung; Sinh khương, Đại táo điều hòa vinh vệ, giúp cho Hoàng kỳ và Phòng kỷ tăng tác dụng bổ khí hành thủy, thoái thủng).

Thuốc đắp: Xung Hòa Cao.

- Sách ‘Bì Phu Bệnh Trung Y Chẩn Liệu Học’ dùng bài Hương Sa Lục Quân Tử Thang gia giảm: Đảng sâm, Bạch truật, Phục linh, Hoàng kỳ, Mộc hương đều 10g, Đan sâm, Nhẫn đông đằng, Hoạt huyết đằng đều 15g, Trần bì, Sa nhân (cho vào sau) đều 6g, Hà thủ ô, Đương quy đều 12g. Sắc uống.

+ Can Uất: Vùng ngực, bụng, hông sườn có những mạch máu bế tắc không nhất định, đau như kim đâm, đau tức hoặc đột nhiên bị đau, thường bị phiền muộn, thở dài, có biểu hiện của Can uất, rêu lưỡi trắng nhạt, lưỡi đỏ sậm hoặc có vết ban tím, mạch Huyền hoặc Huyền Sáp.

Điều trị: Thanh Can, giải uất, hoạt huyết, giải độc.

- Sách ‘Trung Y Cương Mục’ dùng bài Phục Nguyên Hoạt Huyết Thang gia giảm: Sài hồ, Đương quy, Thiên hoa phấn, Đào nhân, Hồng hoa, Xuyên sơn giáp, Đại hoàng, Cam thảo. Sắc uống với rượu.

(Sài hồ sơ Can, lý khí; Đương quy dưỡng huyết, hoạt huyết làm chủ dược; Hỗ trợ có Xuyên sơn giáp để phá ứ, thông lạc; Đào nhân, Hồng hoa hoạt huyết khứ ứ; Đại hoàng khứ trừ huyết ứ, quét sạch uất nhiệt, hỗ trợ cho tác dụng hoạt huyết khứ ứ của các vị thuốc trên; Thiên hoa phấn thanh nhiệt, tiêu thủng; Cam thảo hoãn cấp chỉ thống, điều hòa các vị thuốc. Hợp với thuốc đắp có tác dụng trừ máu xấu, sinh máu mới, khí thông, huyết hành thì chứng hông sườn ứ sẽ tự khỏi).

Thuốc đắp: Xung Hòa Cao.

- Sách ‘Bì Phu Bệnh Trung Y Chẩn Liệu Học’ dùng bài Sài Hồ Thanh Can Thang gia giảm: Sài hồ, Hoàng cầm, Tiêu sơn chi, Cam thảo đều 6g, Xích thược, Đương quy, Liên kiều, Thiên hoa phấn đều 10g, Tam thất phấn 4,5g (cho vào uống), Kê huyết đằng, Nhẫn đông đằng đều 30g, Ty qua lạc 3g. Sắc uống.

Tham Khảo:

+ Tân Mạch Quản Viêm Hoàn (Bì Phu Bệnh Trung Y Chẩn Liệu Học). Trạch lan 60g, Xuyên khung, Hồng hoa đều 15g, Đương quy, Ngưu tất, Mộc qua đều 30g, Anh túc xác 9g. Tán bột, trộn với mật làm thành hoàn 9g, Ngày uống 2 hoàn vào buổi sáng, tối.

+ Hoạt Huyết Khứ Ứ Phiến (Trung Y Cương Mục): Lưu ký nô 45g, Đương quy, Xích thược, Khương hoạt, đều 30g, Đào nhân, Hồng hoa, Xuyên sơn giáp (châu), Thổ nguyên đều 24g, Công đinh hương, Sinh xuyên quân đều 15g, Chế thành không quá 60 viên. Mộc hương 18g. Nghiền nát. Chế lại thành phiến, mỗi phiến 0,3g. Mỗi lần uống 10 phiến, ngày 3 lần.

+ Dùng bài Đương Quy Hoạt Huyết Thang gia vị trị 30 ca viêm tắc tĩnh mạch chân. Trong đó nam 22, nữ 8, tuổi từ 25-40 là 7 người, 41 tuổi trở lên là 23 người. Nhỏ tuổi nhất là 20, lớn tuổi nhất là 71. Nguyên nhân: do ngoại thương 9 người, bệnh truyền nhiễm 8, sau khi sinh 1, nguyên nhân không rõ: 11. Chứng trạng lâm sàng: bị ở bắp chân bên phải: 19, bắp chân bên trái 11. Bắp chân sưng 2cm có 14 ca, còn lại thì sưng 3,7cm, 4,7cm, 5,1cm, 7,1cm. Bắp chân sưng ít (+) 12 ca, sưng to 18 ca. Gót chân sưng ít 21 ca, sưng to 9 ca. Bắp chân ấn nhẹ vào đã đau 19, ấn mạnh mới đau 11. Thời gian phát bệnh: ngắn nhất là 4 ngày, đa số hơn nửa năm.

Điều trị: dùng bài Đương Quy Hoạt Huyết Thang: Đương quy, Đan sâm, Hồng hoa đều 30g, Xích thược 50g, Ngưu tất, Địa long đều 20g, Xích thược 50g, Xuyên sơn giáp (nướng) 15g, Vương bất lưu hành 40g. Sắc uống.

Gia giảm: Do ngoại thương làm ứ huyết sưng đau thêm Tô Mộc, Đào nhân; Thấp nhiệt thêm Hoàng bá, Thương truật, Ý dĩ, Trạch tả, Tỳ giải; Co rút thêm Mẫu lệ, Toàn trùng, Ngô công; Khí hư thêm Hoàng kỳ, Đảng sâm, Bạch truật, Phục linh.

Thuốc đắp ngoài: Mang tiêu 100g, Độc hoạt 30g, Thấu cốt thảo 40g, Ngải diệp 30g. Sắc lấy nước, thấm vào khăn, đắp ngày 2 lần.

Kết quả: Trong 30 ca, khỏi 19, đạt 63,3%, có hiệu quả 9, đạt 30%, Có chuyển biến tốt 2, đạt 6,6%. Thời gian trị khỏi: ít nhất là 1 tháng, nhiều nhất là 4 tháng. Khỏi trong vòng 3 tháng: 18 ca.

CHÂM CỨU

+ Dựa theo đường kinh, chọn Cách du, Thái uyên. Hợp với: Chi trên Hợp cốc, Khúc trì. Cẳng tay chọn Nội quan, Khúc trạch. Chi dưới: mặt trong chân chọn Âm lăng tuyền, Tam âm giao. Vùng hông ngực bụng chọn Nội quan, Dương lăng tuyền.

Châm bình bổ bình tả. Lưu kim 30 phút. 2-3 ngày châm một lần.

. Cục bộ chọn: A thị huyệt. Hợp với Hợp cốc, Nội quan, Thủ tam lý, Khúc trì (Chi trên). Túc tam lý, Âm lăng tuyền, Tam âm giao (Chi dưới).

Châm bình bổ bình tả. Lưu kim 30 phút. Mỗi ngày châm một lần (Bì Phu Bệnh Trung Y Chẩn Liệu Học).

+ Hàn Thấp Trở Kết: Tán hàn, khứ thấp, thông lạc, chỉ thống. Châm Xung dương, Túc tam lý, Ngoại quan, Tam âm giao, Huyết hải, Mệnh môn.

+ Huyết Mạch Ứ Trở: Hoạt huyết hóa ứ, ôn kinh thông mạch. Châm Huyết hải, Tam âm giao, Dương lăng tuyền, Ngoại quan, Cách du.

+ Nhiệt Độc Thương Âm: Thanh nhiệt giải độc, tư âm, thông lạc. Châm Đại chùy, Nội đình, Hợp cốc, Khúc trì, Chiếu hải.

+ Thấp Nhiệt Độc Thịnh: Thanh nhiệt giải độc, lợi thấp thông lạc. Châm Nội đình, Hành gian, Âm lăng tuyền, Túc tam lý, Dương lăng tuyền, Khúc trì.

+ Khí Huyết Lưỡng Hư: Ích khí, dưỡng huyết, thông lạc. Châm Túc tam lý, Trung quản, Tỳ du, Can du, Thận du.

Châm bình bổ bình tả. Ngày châm một lần, mỗi lần 20 phút. 10 lần là một liệu trình (Bị Cấp Châm Cứu).

Cứu:

+ Cách du, Chiên trung, A thị huyệt. Dùng Ngải điếu ôn cứu 7-15 phút, thấy da ửng đỏ là được. Mỗi ngày cứu một lần (Bì Phu Bệnh Trung Y Chẩn Liệu Học).

+ Phục lưu, Thái khê, Côn lôn, Chiếu hải, Khâu hư, Thân mạch, Trung phong. Dùng ngải điếu cứu ấm mỗi huyệt 5 phút. Ngày cứu 1 lần, 10 lần là một liệu trình (Bị Cấp Châm Cứu). Ghi chú: Bệnh ở giai đoạn 3, 4 không nên dùng phép cứu.

Giác Lể

Lể ra máu rồi giác các huyệt Ủy trung, Túc lâm khấp. Mỗi ngày làm một lần, mỗi lần 10 phút. 10 lần là 1 liệu trình (Bị Cấp Châm Cứu).

21 tháng 3, 2011

Chữa trị viêm tĩnh mạch.

Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch. Chữa trị viêm tĩnh mạch.